Key Takeaways
- Xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép phải tách hai loại hình cơ sở: nhà máy sản xuất keo có nồi phản ứng resin, và nhà máy ván ép chỉ trộn rồi tráng keo.
- Năm dòng khí cần tách riêng gồm nồi phản ứng resin, nồi trộn và máy tráng keo, máy ép nhiệt, lò hơi, khu chà nhám; dòng từ máy ép nhiệt nóng và ẩm nhất. Formaldehyde và ammonia là hai chất đặc trưng của keo UF.
- Formaldehyde tan mạnh trong nước nên tháp hấp thụ giữ được nó, nhưng phát sinh nước thải chứa formaldehyde và nguy cơ tự trùng hợp làm tắc vật liệu đệm.
- Ammonia dùng làm chất bắt formaldehyde trong keo UF theo dòng khí ra ngoài, làm mất hoạt tính xúc tác quý kim lẫn xúc tác quang, nên máy UV quang xúc tác không phù hợp.
Cơ sở sản xuất keo dán gỗ ván ép thường đốt lò hơi phụ trợ, và khi tổng công suất vượt mốc thì phải áp mục 2.2 của QCVN 19:2024/BTNMT; mốc công suất và ngưỡng tương ứng được trình bày trong bài xử lý khí thải nhà máy nhiệt điện.
Bên cạnh formaldehyde, dây chuyền tráng keo còn phát sinh hơi dung môi từ dung môi pha keo; phần chọn công nghệ cho dòng này nằm trong bài xử lý hơi dung môi.
Nhà máy sản xuất keo dán và nhà máy ván ép thường bị gộp chung khi tính toán hệ thống xử lý khí thải, trong khi hai loại hình này phát sinh những dòng khí khác nhau cả về nồng độ lẫn nhiệt độ. Xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép vì vậy phải bắt đầu bằng việc xác định cơ sở thuộc loại nào, tách từng dòng khí rồi mới chọn thiết bị và đối chiếu quy chuẩn.
Khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép gồm những gì
Hai loại hình nhà máy, hai sơ đồ phát thải khác nhau
Nhà máy sản xuất keo cho formaldehyde phản ứng với urea trong nồi có cánh khuấy và áo gia nhiệt. Nhà máy ván ép mua keo thành phẩm, trộn thêm chất độn, tráng keo lên từng lớp ván lạng rồi ép. Cả hai đều dùng keo urea formaldehyde, nhưng nhà máy sản xuất keo còn thải thêm methanol và dimethyl ether. Vì vậy xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép cho hai loại hình này không thể dùng chung một sơ đồ. Cách bố trí cho dây chuyền nhiều dòng khí song song xem ở bài xử lý khí thải từ xưởng sản xuất nội thất.
Năm dòng khí từ năm công đoạn
Một nhà máy ván ép điển hình có máy tráng keo, máy ép nhiệt, lò hơi đốt củi và khu chà nhám. Từ đó tách ra năm dòng khí. Dòng thứ nhất từ nồi phản ứng resin, chỉ có ở nhà máy sản xuất keo, nồng độ formaldehyde cao nhất. Dòng thứ hai từ nồi trộn keo và máy tráng keo, nhiệt độ thường nhưng có sương keo. Dòng thứ ba từ máy ép nhiệt, vừa nóng vừa ẩm. Dòng thứ tư từ lò hơi gồm bụi và khí cháy, dòng thứ năm từ khu chà nhám là bụi gỗ mịn. Xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép hiệu quả hay không phụ thuộc vào việc tách đúng năm dòng này ngay từ khâu thu gom.
Formaldehyde và ammonia: cặp đôi đặc trưng của keo UF
Formaldehyde là chất khí không màu, mùi hăng nồng, được xếp vào nhóm một trong danh mục các tác nhân gây ung thư ở người từ năm 2004. Trong keo urea formaldehyde, người ta cố tình cho thêm ammonia hoặc amoni hydroxit để bắt bớt formaldehyde tự do. Nhờ vậy sản phẩm đạt mức phát thải thấp hơn, nhưng ammonia dư lại bay ra theo dòng khí. Kết quả là dòng khí chứa đồng thời hai chất trái ngược nhau: formaldehyde mang tính khử, còn ammonia mang tính base.
Vì sao bài này không bàn nước thải chứa formaldehyde
Tháp hấp thụ nước giữ formaldehyde rất tốt, nhưng khi đó formaldehyde chuyển từ pha khí sang pha lỏng và trở thành vấn đề của nước thải. Nước thải chứa formaldehyde thuộc phạm vi điều chỉnh của QCVN 40:2025/BTNMT về nước thải công nghiệp, một quy chuẩn riêng với cách lấy mẫu và giới hạn khác hoàn toàn. Bài viết này chỉ giới hạn ở phần khí thải theo QCVN 19:2024/BTNMT.
| Công đoạn | Dòng khí | Chất ô nhiễm chính | Đặc điểm |
|---|---|---|---|
| Nồi phản ứng resin | A, chỉ có ở nhà máy sản xuất keo | Formaldehyde, methanol, dimethyl ether, ammonia | Nồng độ cao nhất |
| Nồi trộn keo, máy tráng keo | B | Formaldehyde, ammonia, sương keo | Nhiệt độ thường, ẩm cao |
| Máy ép nhiệt | C | Formaldehyde, hơi nước, mùn gỗ | Nóng và ẩm nhất |
| Lò hơi đốt củi, mùn cưa | D | Bụi, khí cháy | Đã có hệ thống riêng |
| Chà nhám, cắt cạnh | E | Bụi gỗ mịn | Đã có hệ thống riêng |
Vì sao mùi keo dán gỗ ván ép khó xử lý hơn mùi dung môi thông thường
Formaldehyde tan rất mạnh trong nước: lợi thế của tháp hấp thụ
Khác với dung môi hữu cơ như toluene hay xylene vốn rất khó tan trong nước, formaldehyde tan gần như không giới hạn. Nghĩa là chỉ cần cho dòng khí tiếp xúc đủ lâu với nước trong tháp hấp thụ là có thể chuyển phần lớn formaldehyde sang pha lỏng. Nguyên lý và cách chọn dung dịch xem ở bài tháp hấp thụ NaOH, còn khác biệt giữa hấp thụ và hấp phụ nằm ở bài xử lý khí thải bằng phương pháp hấp thụ.
Cái giá thứ nhất: nước thải thứ cấp chứa formaldehyde
Dung dịch tuần hoàn trong tháp sau một thời gian sẽ bão hòa và phải xả bỏ định kỳ. Dòng xả này chứa formaldehyde ở nồng độ đáng kể, thuộc nhóm chất thải nguy hại và không được xả thẳng ra cống chung. Vì vậy khi thiết kế tháp cho dòng khí keo, phải tính trước khối lượng dung dịch xả, bể chứa tạm và đơn vị thu gom có chức năng. Chi phí vận hành này thường bị bỏ qua khi báo giá chỉ tính phần thiết bị.
Cái giá thứ hai: formaldehyde tự trùng hợp làm tắc vật liệu đệm
Trong môi trường kiềm và ở nhiệt độ cao, các phân tử formaldehyde có thể liên kết lại thành mạch dài gọi là polyoxymethylene. Chất rắn này bám vào vật liệu đệm và đọng ở miệng pép phun. Hệ quả là trở lực của tháp tăng dần, lưu lượng khí giảm và hiệu quả xử lý tụt xuống. Vật liệu đệm dạng cầu hoặc yên ngựa dễ bị bít hơn đệm cấu trúc có rãnh xả, nên với xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép đây là quyết định phải tính từ đầu; cấu tạo chi tiết xem ở bài tháp rửa khí PP.
Ammonia từ chất bắt formaldehyde làm hỏng xúc tác
Vì ammonia được dùng làm chất bắt formaldehyde, dòng khí ra khỏi công đoạn tráng keo và ép nhiệt luôn chứa một lượng ammonia nhất định, và ammonia gây ngộ độc xúc tác rất mạnh. Với lớp xúc tác quý kim, ammonia chiếm các tâm hoạt động và làm mất hoạt tính chỉ sau vài trăm giờ. Với xúc tác quang titanium dioxide trong máy dùng đèn UV, ammonia bám lên bề mặt và chặn phản ứng. Vì vậy những thiết bị quảng cáo dùng đèn UV kết hợp quang xúc tác để xử lý mùi keo đều không phù hợp. Xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép bắt buộc phải tính ammonia như một thông số riêng.
| Vấn đề | Nguyên nhân hóa học | Hệ quả thiết kế | Cách xử lý |
|---|---|---|---|
| Formaldehyde trong nước thải | Tan mạnh trong nước, chuyển sang pha lỏng | Phát sinh dòng thải nguy hại | Bể chứa tạm và hợp đồng thu gom |
| Tắc vật liệu đệm | Tự trùng hợp thành chất rắn khi kiềm và nóng | Trở lực tăng, hiệu quả giảm dần | Chọn đệm có rãnh xả, kiểm soát pH |
| Mất hoạt tính xúc tác | Ammonia chiếm tâm hoạt động | Không dùng được xúc tác quý kim | Tách ammonia bằng tháp axit trước |
Phân loại keo theo hóa học để chọn hướng xử lý
Keo UF chiếm phần lớn sản lượng ván ép
Keo urea formaldehyde được dùng phổ biến nhất trong sản xuất ván ép, ván dăm và ván MDF vì giá thấp và đóng rắn nhanh. Một công thức tham khảo cho một trăm kilogam keo gồm formaldehyde ba mươi bảy phần trăm từ sáu mươi đến sáu mươi lăm kilogam, urea hạt từ ba mươi đến ba mươi lăm kilogam chia hai đến ba lần nạp, và amoni hydroxit hai mươi lăm đến hai mươi tám phần trăm từ ba đến năm kilogam. Tỷ lệ mol giữa formaldehyde và urea thường nằm trong khoảng một phẩy ba đến một phẩy năm trên một, và chính tỷ lệ này quyết định tải lượng formaldehyde mà xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép phải chịu.
Keo PF và phenol: chất khó phân hủy sinh học
Keo phenol formaldehyde dùng cho ván ép ngoài trời vì liên kết bền hơn keo UF. Đổi lại, dòng khí từ công đoạn dùng keo PF chứa phenol bên cạnh formaldehyde. Phenol độc hơn formaldehyde với hệ sinh vật nước và rất khó bị phân hủy sinh học, nên không thể áp dụng các phương pháp sinh học như với một số dòng khí hữu cơ khác. Nguyên lý của nhóm phương pháp này xem ở bài xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học, nhưng phenol nằm ngoài vùng áp dụng an toàn của chúng. Với dòng khí chứa phenol, hấp phụ bằng than hoạt tính hoặc oxy hóa nhiệt là hai lựa chọn đáng cân nhắc hơn.
Keo MUF và nhóm keo phát thải thấp
Keo melamine urea formaldehyde là bước cải tiến từ keo UF bằng cách thay một phần urea bằng melamine. Nhờ vậy liên kết ngang chặt hơn và lượng formaldehyde tự do thấp hơn rõ rệt. Các mức phát thải thấp thường được nêu theo hai cách khác nhau. Cách thứ nhất đo trong buồng thử và biểu diễn bằng phần triệu, với mức E1 khoảng không phẩy một phần triệu và E0 dưới không phẩy không năm phần triệu. Cách thứ hai đo theo phương pháp đục lỗ và biểu diễn bằng miligam trên lít. Vì hai cách đo khác nhau nên con số không so sánh trực tiếp được.
Keo không chứa formaldehyde và giới hạn của nó
Nhóm keo không chứa formaldehyde gồm polyvinyl alcohol, isocyanate, epoxy và polyurethane phân tán trong nước. Đây là cách triệt để nhất để loại bỏ formaldehyde khỏi dòng khí, và trên thị trường đã có nhà cung cấp giới thiệu sản phẩm theo hướng này. Tuy nhiên chi phí keo cao hơn và một số loại cần điều kiện ép khác dây chuyền hiện hữu, nên phần lớn nhà máy vẫn dùng keo UF và xử lý ở đầu ra. Với dòng khí hữu cơ nồng độ trung bình, hấp phụ bằng than hoạt tính sau khi đã tách ẩm là lựa chọn kinh tế; nguyên lý xem ở bài xử lý khí thải bằng phương pháp hấp phụ.
Trình tự thiết bị đúng cho dòng khí nóng ẩm chứa formaldehyde
Vì sao lớp than hoạt tính không được đặt trước tháp rửa
Một số sơ đồ đặt tháp than hoạt tính ngay sau quạt hút rồi mới đến tháp hấp thụ nước. Với dòng khí keo, thứ tự này sai. Dòng khí từ máy ép nhiệt có độ ẩm rất cao, và than hoạt tính hấp phụ hơi nước mạnh không kém chất hữu cơ. Khi hạt than đã bão hòa nước, các lỗ xốp bị nước chiếm chỗ và khả năng giữ formaldehyde giảm mạnh. Ammonia trong dòng khí cũng bị giữ lại trên than và làm giảm dung lượng hữu ích. Vai trò và giới hạn của thiết bị này xem ở bài tháp hấp phụ than hoạt tính, còn vị trí của nó trong dây chuyền xem ở bài tháp xử lý khí thải là gì.
Làm mát và tách ẩm trước khi hấp phụ
Trình tự đúng là thu gom, làm mát, tách ẩm, rồi mới đến hấp phụ. Tháp hấp thụ nước đảm nhiệm cùng lúc ba việc: hạ nhiệt độ dòng khí, giữ bụi và sương keo, và hấp thụ phần formaldehyde dễ tan. Sau tháp, dòng khí cần đi qua thiết bị tách ẩm dạng tấm chắn hoặc xyclon để loại các giọt lỏng cuốn theo. Chỉ khi độ ẩm tương đối đã xuống dưới ngưỡng an toàn cho hạt than thì tầng hấp phụ mới phát huy hết dung lượng. Nếu bỏ qua bước tách ẩm, chi phí thay than sẽ tăng lên nhiều lần.
Chọn dung dịch hấp thụ cho formaldehyde và ammonia
Vì hai chất cần xử lý có tính chất trái ngược, một dung dịch duy nhất không đủ. Formaldehyde tan tốt trong nước nên nước sạch đã đủ, nhưng nên dùng dung dịch kiềm nhẹ để ổn định pH. Ammonia thì ngược lại, phải được hấp thụ bằng dung dịch axit loãng. Cách bố trí hợp lý là hai tháp nối tiếp: tháp thứ nhất dùng axit để giữ ammonia, tháp thứ hai dùng kiềm nhẹ hoặc nước để giữ formaldehyde. Thứ tự này cũng tránh việc ammonia lọt vào tháp kiềm và làm pH tăng nhanh ngoài kiểm soát. Công thức tính đường kính, chiều cao lớp đệm và lưu lượng dung dịch xem ở bài tính toán thiết kế tháp hấp thụ.
Xử lý bùn và nước ngưng từ tháp
Dòng lỏng ra khỏi hai tháp gồm nước ngưng từ hơi nước của máy ép, bụi gỗ bị giữ lại, và formaldehyde đã hấp thụ. Hỗn hợp này cần qua bể lắng để tách bùn và váng nổi trước khi tuần hoàn trở lại hoặc xả bỏ. Bùn lắng và phần dung dịch đã bão hòa phải được quản lý như chất thải nguy hại nếu thành phần vượt ngưỡng, và bàn giao cho đơn vị có chức năng. Cần ghi lại pH dung dịch tuần hoàn mỗi ca, vì pH quyết định hiệu quả hấp thụ ammonia và tốc độ tạo chất rắn gây tắc đệm.
Khi nào cần đến oxy hóa nhiệt
Với nhà máy quy mô lớn, dòng khí từ nồi phản ứng resin có thể có nồng độ hữu cơ đủ cao để hấp phụ trở nên đắt vì phải thay than quá thường xuyên. Khi đó oxy hóa nhiệt, đặc biệt là oxy hóa nhiệt tái sinh, là phương án đáng cân nhắc: chi phí đầu tư và vận hành cao hơn, nhưng xử lý được tải lượng lớn và không phát sinh chất thải rắn cần thu gom. Nguyên lý và điều kiện áp dụng xem ở bài xử lý khí thải bằng phương pháp thiêu đốt. Điều kiện tiên quyết là phải tách ammonia trước, nếu không lớp xúc tác sẽ hỏng rất nhanh.
Hệ thống xử lý khí thải nhà máy ván ép gồm những hạng mục nào
Thu gom tại ba điểm phát sinh chính
Thu gom quyết định phần lớn hiệu quả của cả hệ thống. Ba điểm cần hút cục bộ là miệng nồi trộn keo, khu vực máy tráng keo và hai đầu máy ép nhiệt. Với máy ép nhiệt, nên làm chụp hút kín theo chiều dài máy và hút cả hai đầu vì hơi nước thoát ra ở cả hai phía khi mở bàn ép. Với xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép, đường kính ống nhánh và vận tốc trong ống phải được tính sao cho không lắng bụi và không lọt sương keo. Cách bố trí tổng thể xem ở bài thiết kế hệ thống hút khí thải cho nhà máy, và nguyên lý của tháp xem ở bài hệ thống xử lý khí thải SCR.
Tuyến xử lý dòng khí nóng từ máy ép nhiệt
Đây là tuyến chính và cũng là tuyến tốn kém nhất. Dòng khí này có lưu lượng lớn, nhiệt độ cao và độ ẩm gần bão hòa, nên trước hết cần một đoạn ống đủ dài hoặc một thiết bị trao đổi nhiệt để hạ nhiệt độ xuống vùng làm việc của vật liệu. Sau khi hạ nhiệt, dòng khí vào tháp hấp thụ nước, tại đây phần lớn formaldehyde và bụi bị giữ lại. Dòng ra khỏi tháp đi qua thiết bị tách ẩm rồi mới vào tầng hấp phụ than hoạt tính để xử lý phần hữu cơ còn lại và khử mùi. Quạt cho tuyến này nên đặt sau thiết bị tách ẩm để tránh ăn mòn.
Tuyến xử lý khí từ nồi trộn keo và máy tráng keo
Dòng khí từ nồi trộn keo và máy tráng keo có nhiệt độ thường nhưng chứa sương keo dạng hạt lỏng nhỏ. Sương keo là vấn đề riêng vì nó bám dính và tạo màng trên bề mặt vật liệu lọc, làm giảm tuổi thọ của túi lọc và lớp than. Vì vậy tuyến này cần thiết bị tách giọt trước khi vào bất kỳ tầng lọc nào. Nếu nhà máy sản xuất keo có nồi phản ứng resin, dòng khí từ nồi này nên thu riêng và xử lý độc lập vì nồng độ cao hơn nhiều so với hai nguồn còn lại.
Vật liệu chống ăn mòn và chế độ bảo trì
Dung dịch hấp thụ trong các tháp có pH lệch khỏi trung tính, lại thêm formaldehyde và các axit hữu cơ, nên vật liệu phải chọn theo độ ăn mòn chứ không theo giá. Nhựa polypropylene và PVC phù hợp cho thân tháp, đường ống và bơm ở vùng nhiệt độ thường; với đoạn ống trước khi hạ nhiệt thì cần vật liệu chịu nhiệt tốt hơn. Cấu tạo và ưu điểm của tháp làm từ nhựa polypropylene xem ở bài scrubber tháp xử lý khí thải bằng nhựa PP. Đường ống dẫn khí nên dùng loại thành dày và mối nối hàn để hạn chế rò rỉ, nguyên lý chọn xem ở bài ống gió nhựa PVC. Về bảo trì, cần theo dõi chênh áp qua từng tầng và thay than theo dấu hiệu chênh áp.
| Hạng mục | Nhiệm vụ | Thông số cần kiểm soát |
|---|---|---|
| Chụp hút cục bộ | Thu khí tại nguồn | Vận tốc hút tại miệng |
| Thiết bị hạ nhiệt | Hạ nhiệt dòng khí từ máy ép | Nhiệt độ khí vào và ra |
| Tháp hấp thụ axit | Giữ ammonia | pH dung dịch, lưu lượng tuần hoàn |
| Tháp hấp thụ kiềm nhẹ | Giữ formaldehyde và bụi | pH dung dịch, chênh áp qua lớp đệm |
| Thiết bị tách ẩm | Loại giọt lỏng cuốn theo | Độ ẩm khí sau tách |
| Tầng hấp phụ than hoạt tính | Giữ hữu cơ còn lại, khử mùi | Chênh áp, độ ẩm vào |
| Bể lắng và bể chứa dung dịch | Tách bùn, chứa dung dịch | pH, khối lượng xả |
Áp dụng QCVN 19:2024/BTNMT cho nhà máy ván ép
Bảng 1 và Bảng 2: chọn đúng cột A, B hay C
QCVN 19:2024/BTNMT là quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp, thay thế các quy chuẩn cũ về khí thải công nghiệp. Quy chuẩn chia giới hạn thành hai bảng: Bảng 1 áp dụng cho các thông số ở thể khí, Bảng 2 áp dụng cho các thông số ở thể hạt. Mỗi bảng lại chia thành ba cột A, B và C tùy theo mức độ yêu cầu của nguồn thải và vùng tiếp nhận. Bước đầu khi lập hồ sơ là xác định cơ sở thuộc nhóm ngành nào và thiết bị xả thải nào đang dùng, rồi tra đúng bảng và cột. Xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép cần đối chiếu cả Bảng 1 và Bảng 2 vì vừa có khí vừa có bụi.
Formaldehyde và ammonia là thông số phải quan trắc riêng
Hai chất đặc trưng của ngành này không thể suy ra từ kết quả đo các thông số chung. Formaldehyde và ammonia phải được lấy mẫu và phân tích riêng theo hướng dẫn hiện hành. Vì ammonia dễ tan trong nước, mẫu khí cần được lấy bằng thiết bị hấp thụ qua dung dịch chứ không dùng túi chứa khô. Vì formaldehyde có thể tiếp tục phản ứng trong bình chứa, mẫu phải được phân tích trong thời gian ngắn sau khi lấy. Trên thực tế, nhiều nhà máy chỉ quan trắc bụi và một vài khí thông dụng rồi kết luận đạt chuẩn. Vai trò của hệ thống khử mùi công nghiệp xem ở bài hệ thống khử mùi công nghiệp.
Khi nào dòng khí chuyển sang QCVN 30:2025/BTNMT
Nếu nhà máy có lò đốt chất thải thay vì chỉ có lò hơi, dòng khí ra khỏi lò đốt không còn thuộc phạm vi QCVN 19. Khí thải lò đốt chất thải công nghiệp chịu QCVN 30:2025/BTNMT, với các thông số đặc thù như dioxin, furan và yêu cầu về nhiệt độ buồng đốt, thời gian lưu. Xác định sai quy chuẩn áp dụng dẫn tới lập hồ sơ sai và có thể bị yêu cầu làm lại. Nguyên lý và các mức nhiệt độ của nhóm thiết bị này xem ở bài xử lý khí thải lò đốt.
Trường hợp nhà máy cao su — nơi dòng khí vừa ẩm cao vừa chứa amoniac — được tách riêng thành một chuỗi xử lý trong bài xử lý khí thải nhà máy cao su.
Kết luận và cách chọn cấu hình
Chọn theo quy mô và loại keo đang dùng
Bước đầu là xác định loại keo đang dùng, vì keo UF và keo PF dẫn đến hai bộ thông số ô nhiễm khác nhau. Bước thứ hai là xác định cơ sở có nồi phản ứng resin hay không, vì nhà máy sản xuất keo cần thêm một tuyến riêng cho dòng khí nồng độ cao. Bước thứ ba là đo lưu lượng và nhiệt độ thực tế của dòng khí từ máy ép nhiệt, vì đây là thông số quyết định kích thước hệ thống. Với cơ sở nhỏ chỉ có vài máy ép, cấu hình hai tháp nối tiếp cộng tháp than là đủ; xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép cho nhà máy nhiều dòng thải song song theo cách tương tự như ở bài xử lý khí thải nhà máy sản xuất mực in.
Thông số cần cung cấp khi yêu cầu báo giá
Để báo giá sát thực tế, nên chuẩn bị một danh sách thông số thay vì mô tả bằng lời: số điểm phát sinh và vị trí từng điểm, lưu lượng khí ước tính tại mỗi điểm, nhiệt độ và độ ẩm dòng khí tại máy ép nhiệt, loại keo đang dùng và tỷ lệ mol formaldehyde trên urea, và quy chuẩn áp dụng cho từng tuyến. Trường hợp có thêm công đoạn khác, ví dụ khu gia công cơ khí gỗ, xem ở bài giải pháp xử lý khí thải xưởng CNC, còn với dòng khí nhiều nhóm chất như ngành hóa chất bảo vệ thực vật thì tham khảo ở bài xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật.

Comments are closed