Xử lý hơi dung môi: chọn công nghệ theo độ phân cực và QCVN 19:2024

Latest Comments

No comments to show.
Xử lý hơi dung môi

Key Takeaways

  • Xử lý hơi dung môi không có một công nghệ đúng cho mọi trường hợp: độ phân cực và độ tan trong nước quyết định tháp hấp thụ có hiệu quả hay không.
  • Toluen và xylen gần như không tan trong nước, nên hấp thụ ướt là lựa chọn sai với hai dung môi này.
  • Đặt bình ngưng trước tầng hấp phụ là cách giữ hiệu suất ổn định qua nhiều tháng thay vì suy giảm sau nửa năm.
  • Từ ngày 01/07/2025, hơi dung môi được quản lý theo thông số TVOC tại thông số số 9 Bảng 1 của QCVN 19:2024/BTNMT.

Xử lý hơi dung môi và xử lý khói lò hơi là hai bài toán thiết bị khác nhau dù cùng tra QCVN 19:2024/BTNMT; trường hợp khói đốt than theo ba mức công suất được tính trong bài xử lý khí thải nhà máy nhiệt điện.

Hơi dung môi là gì và vì sao không giống dung môi lỏng

Hơi dung môi là phần dung môi hữu cơ đã bay khỏi bề mặt vật liệu, hòa vào không khí trong xưởng rồi bị hút ra theo hệ thống thông gió. Phần đã bay hơi không nhìn thấy và chỉ xử lý được ngay tại dòng khí trước khi thải, nên xử lý hơi dung môi trong khí thải là bài toán thiết kế hệ thống, không phải bài toán thu gom.

Nguồn phát sinh tập trung ở buồng phun sơn và lò sấy, máy in, dây chuyền tráng keo và ép ván, bể tẩy rửa dầu mỡ kim loại, nồi phản ứng sản xuất dược phẩm và công đoạn hòa tan cao su. Dung môi bay hơi gần như toàn bộ sau khi dùng, nên lưu lượng khí cần xử lý lớn hơn nhiều khối lượng dung môi tiêu thụ.

Phần lớn hơi dung môi nặng hơn không khí: toluen khoảng 3,1 lần, xylen khoảng 3,7 lần, butyl axetat khoảng 4 lần. Hơi chìm xuống, men theo mặt sàn và lan xa gần như không bị pha loãng, nên chụp hút phải đặt thấp và hút ngang hoặc hút xuống. Cách bố trí có trong bài hệ thống xử lý hơi hóa chất.

Ba đặc tính quyết định công nghệ xử lý hơi dung môi

Nhiệt độ sôi: ranh giới giữa ngưng tụ và hấp phụ

Dung môi công nghiệp có nhiệt độ sôi trải từ dưới 50 đến trên 200 độ C: diclometan khoảng 40, axeton 56, metanol 65, etyl axetat 77, IPA 82, toluen 111, butyl axetat 126, xylen 138 đến 144, NMP trên 200 độ C.

Một nhiệt độ ngưng tụ duy nhất không thu được cả dung môi nhẹ và dung môi nặng. Ngưng tụ ở khoảng 10 độ C, cao hơn điểm đóng băng để tránh bít đường ống, chỉ đạt vài chục phần trăm với dung môi nhẹ.

Độ phân cực và độ tan trong nước: ranh giới của tháp hấp thụ

Đây là đặc tính bị bỏ qua nhiều nhất và cũng quyết định nhất. Tháp hấp thụ chuyển chất ô nhiễm từ pha khí sang pha lỏng khi khí tiếp xúc với nước, và quá trình đó chỉ hiệu quả khi chất ô nhiễm có ái lực với nước, đo bằng độ tan trong nước và hằng số Henry.

Nhóm tan vô hạn hoặc rất tốt trong nước gồm axeton, metanol, ethanol, IPA, NMP và DMSO; với nhóm này hấp thụ ướt là phương án hợp lý. Ngược lại toluen chỉ tan khoảng 0,5 gam mỗi lít và xylen khoảng 0,2 gam mỗi lít, nên phần lớn đi thẳng qua tháp khi phun nước.

Trong một nghiên cứu về tiền xử lý bằng bình ngưng cho dòng khí thải công nghiệp, toluen có hằng số Henry trong nước chỉ khoảng 0,15 mol trên kilogam nhân bar ở 25 độ C.

Rất nhiều xưởng phun sơn và in ấn dùng toluen hoặc xylen làm dung môi chính. Với các xưởng này, tháp hấp thụ nước đặt làm thiết bị chính sẽ tốn điện bơm quạt, phát sinh nước thải nhiễm dung môi, mà nồng độ hơi đầu ra vẫn không giảm bao nhiêu. Đây là lỗi phổ biến nhất trong các thiết kế xử lý hơi dung môi ở Việt Nam.

Khối lượng riêng hơi và giới hạn nổ: ranh giới của thiết kế an toàn

Hầu hết hơi dung môi hữu cơ đều nặng hơn không khí và có giới hạn nổ dưới tương đối thấp. Chụp hút phải thu khí ở vùng thấp nơi hơi tích tụ, và nồng độ hơi trong đường ống phải luôn dưới một phần tư giới hạn nổ dưới.

Năm nhóm dung môi công nghiệp và đặc tính phải tra trước khi chọn thiết bị

Nhóm dung môi Ví dụ thường gặp Nhiệt độ sôi Tan trong nước Đặc điểm cần lưu ý
Hydrocarbon thơm Toluen, xylen, etylbenzen, benzen 110 đến 145 độ C Rất thấp Không phân cực, hấp thụ ướt kém hiệu quả, cần hấp phụ hoặc thiêu đốt
Hydrocarbon mạch thẳng và vòng Hexan, heptan, cyclohexan, dầu hỏa 60 đến 100 độ C Rất thấp Dễ cháy hơn nhóm thơm, độc tính thần kinh cao
Dung môi chứa oxy Axeton, metanol, ethanol, IPA, MEK 56 đến 90 độ C Tan vô hạn Phân cực mạnh, hấp thụ ướt hoạt động tốt
Este Etyl axetat, butyl axetat, isobutyl axetat 77 đến 130 độ C Trung bình đến thấp Tan một phần, cần khảo sát riêng theo từng este
Dung môi halogen hóa Diclometan, cloroform, tricloetylen, percloetylen 40 đến 120 độ C Thấp Dung dịch ngưng tụ nặng hơn nước, không cháy, độc tính cao

Chỉ nhóm chứa oxy thực sự phù hợp với hấp thụ ướt; nhóm este ở vùng chuyển tiếp và phải khảo sát theo từng chất. Dung môi halogen hóa không cháy nhưng độc hơn nhiều, và dung dịch ngưng tụ của chúng chìm xuống đáy bể nước nên bẫy lỏng phải tính riêng. Cách xử lý nhóm VOC có trong bài xử lý khí VOC.

Bốn họ công nghệ xử lý hơi dung môi

Mọi hệ thống xử lý hơi dung môi đều quy về bốn họ công nghệ, mỗi họ chỉ đúng trong một vùng điều kiện xác định. Tổng quan thiết bị có trong bài tháp xử lý khí thải.

Hấp thụ ướt: chỉ đúng với dung môi phân cực, tan trong nước

Hấp thụ ướt cho dòng khí đi ngược chiều với nước qua lớp đệm, chất ô nhiễm chuyển vào pha lỏng rồi theo nước ra khỏi tháp. Với dung môi phân cực như axeton, metanol, IPA và NMP, đây là phương án đơn giản, chi phí đầu tư và vận hành thấp. Nguyên lý có trong bài phương pháp hấp thụ.

Hạn chế khá rõ: công nghệ này chuyển ô nhiễm từ pha khí sang pha lỏng chứ không phân hủy, nên luôn phát sinh nước thải nhiễm dung môi. Vật liệu tháp phải chọn theo tính ăn mòn của dung dịch, và tháp hấp thụ bằng nhựa PP là lựa chọn phổ biến cho xưởng có cả dung môi lẫn hơi axit.

Hấp phụ bằng than hoạt tính hoặc zeolite

Hấp phụ cho hơi dung môi đi qua lớp vật liệu xốp có diện tích bề mặt rất lớn, chất hữu cơ bị giữ lại trên bề mặt. Đây là họ dùng rộng rãi nhất cho nồng độ thấp và cũng là họ duy nhất cho phép thu hồi dung môi về dạng lỏng để tái sử dụng.

Than hoạt tính gắn kết tốt với dung môi không phân cực và có nhiệt độ sôi trung bình, phù hợp với toluen, xylen và các este. Zeolite tốt hơn trong môi trường ẩm và chịu được khí nóng, nhưng bám chặt dung môi nhiệt độ sôi cao nên khó hoàn nguyên. Cách chọn vật liệu có trong bài phương pháp hấp phụ.

Giới hạn của hấp phụ nằm ở độ ẩm và nồng độ đầu vào. Độ ẩm cao cạnh tranh vị trí hấp phụ và làm giảm dung lượng làm việc; nồng độ quá cao làm vật liệu bão hòa nhanh và giảm tuổi thọ. Cấu tạo thiết bị có trong bài tháp hấp phụ than hoạt tính.

Ngưng tụ: thu hồi được dung môi nhưng chỉ ăn với nồng độ cao

Ngưng tụ hạ nhiệt độ dòng khí xuống dưới điểm sương của dung môi để hơi chuyển thành lỏng và tách ra. Ưu điểm lớn nhất là thu được dung môi dạng lỏng tương đối sạch, có thể quay lại dây chuyền; nhược điểm là chi phí làm lạnh tăng rất nhanh khi cần hạ sâu.

Một hiệu ứng ít được đề cập nhưng có giá trị thiết kế: khi dòng khí được làm lạnh, cả hơi dung môi và hơi nước cùng ngưng tụ tạo thành màng lỏng trên bề mặt thiết bị. Màng nước này đóng vai trò pha hấp thụ phụ và giữ lại tốt hơn các dung môi phân cực. Vì vậy bình ngưng hiệu quả rõ rệt với NMP, DMSO, axeton và metanol nhưng kém với toluen; nên tính nó như tầng tiền xử lý, không phải thiết bị xử lý duy nhất.

Thiêu đốt: khi không cần thu hồi

Thiêu đốt phân hủy dung môi thành khí và hơi nước ở nhiệt độ cao, gồm thiêu đốt nhiệt ở vùng 750 đến 1000 độ C và thiêu đốt xúc tác ở vùng 250 đến 500 độ C. Hiệu suất cao và không phát sinh dòng thải lỏng, nhưng tốn nhiên liệu và chỉ hợp lý khi nồng độ hơi đủ lớn để tự duy trì cháy. Dòng khí chứa halogen cho sản phẩm cháy có thành phần axit nên phải có tầng hấp thụ kiềm phía sau, chi tiết trong bài phương pháp thiêu đốt.

Chọn công nghệ theo nồng độ, lưu lượng và bản chất dung môi

Ba thông số đầu vào quyết định lựa chọn công nghệ xử lý hơi dung môi: nồng độ hơi trong khí thải, lưu lượng khí cần xử lý và bản chất dung môi theo nhóm đã phân loại.

Điều kiện dòng khí Bản chất dung môi Hướng công nghệ phù hợp
Nồng độ cao, lưu lượng nhỏ, dung môi có giá trị Bất kỳ Ngưng tụ làm tầng chính, kèm hấp phụ hoặc hấp thụ phía sau để đạt ngưỡng thải
Nồng độ trung bình, lưu lượng lớn Không phân cực, tan nước kém Hấp phụ bằng than hoạt tính; nếu nồng độ đủ lớn và không cần thu hồi thì thiêu đốt
Nồng độ trung bình, lưu lượng lớn Phân cực, tan vô hạn trong nước Hấp thụ ướt, có thể ghép thêm tầng hấp phụ để xử lý phần còn lại
Nồng độ thấp, lưu lượng rất lớn Bất kỳ Cô đặc bằng bánh xe hấp phụ trước, sau đó xử lý dòng cô đặc bằng thiêu đốt hoặc ngưng tụ
Nhiều dung môi hỗn hợp Hỗn hợp nhiều nhóm Thiết kế theo chất khó xử lý nhất, ghép hai họ công nghệ theo thứ tự phù hợp

Thứ tự lắp đặt quan trọng hơn từng thiết bị

Thứ tự các tầng quan trọng không kém việc chọn từng thiết bị: tầng xử lý thô đặt trước tầng xử lý tinh, và tầng nào loại được chất gây hại cho tầng sau thì phải đặt trước. Trường hợp điển hình là đặt bình ngưng trước tầng hấp phụ.

Dung môi nhiệt độ sôi cao bám rất chặt vào vật liệu hấp phụ, khó hoàn nguyên và dần chiếm hết vị trí hoạt động, nên lớp vật liệu mất dần hiệu suất sau khoảng nửa năm. Đặt thêm bình ngưng phía trước giúp tầng hấp phụ giữ hiệu suất ổn định lâu hơn hẳn.

Tách ẩm phải đặt trước tầng hấp phụ hoặc tầng ngưng tụ sâu, và tầng xử lý cuối cùng phải đảm bảo nồng độ đầu ra ổn định. Cách ghép hai tầng có trong bài kết hợp tháp hấp thụ và hấp phụ, phần tính toán kích thước nằm trong bài cột hấp thụ.

Thu hồi dung môi từ dòng khí: khi nào có lãi

Trong xử lý hơi dung môi, thu hồi chỉ hợp lý về kinh tế khi hội đủ ba điều kiện: nồng độ hơi đủ cao để khối lượng thu hồi mỗi ngày có ý nghĩa; dung môi có giá trị sử dụng lại hoặc giá mua cao; và dây chuyền có nhu cầu dùng lại chính loại dung môi đó.

Điều kiện thứ ba hay bị bỏ qua và là nguyên nhân thất vọng phổ biến nhất. Dung môi thu hồi thường lẫn nước và các cấu tử khác trong khí thải, nên độ tinh khiết không đạt mức quy trình yêu cầu; trong một số ngành, dung môi ngưng tụ được vẫn phải đem bán hoặc xử lý như chất thải.

Hệ thống thu hồi thường dùng than hoạt tính hoặc zeolite làm tầng hấp phụ, sau đó hoàn nguyên bằng hơi nước nóng và ngưng tụ hỗn hợp hơi. Với dòng khí nhiều dung môi, dung dịch thu được là hỗn hợp và cần chưng cất phân đoạn nếu muốn tách riêng từng cấu tử; một số cấu hình chuyên cho ứng dụng này có trong bài tháp than hoạt tính khử mùi.

An toàn, vật liệu và bảo trì

Chống nổ

Hơi dung môi cháy được ở một dải nồng độ xác định, và hầu hết dung môi công nghiệp đều có giới hạn nổ dưới tương đối thấp. Nguyên tắc an toàn là giữ nồng độ hơi trong đường ống dưới một phần tư giới hạn nổ dưới ở mọi chế độ vận hành, kể cả khi khởi động, khi dừng hoặc khi có sự cố. Biện pháp đi kèm gồm đo nồng độ liên tục, pha loãng khi vượt ngưỡng và nối đất chống tích điện.

Vật liệu chống ăn mòn

Dòng khí chứa hơi dung môi thường đi kèm hơi axit hoặc hơi kiềm, nhất là ở xưởng có công đoạn tẩy rửa kim loại hoặc sơn pha axit, nên vật liệu đường ống và thân thiết bị phải chọn theo cả dung môi lẫn thành phần axit kiềm. Nhựa PP, PVC, FRP và composite là các nhóm dùng cho đường ống và thân tháp; với quạt hút khí có dung môi còn phải bảo đảm chống ăn mòn lẫn chống tia lửa, tham khảo bài quạt ly tâm nhựa PP.

Ba điểm mù khiến hệ thống mất hiệu suất sau vài tháng

Điểm mù thứ nhất là tầng hấp phụ bão hòa dung môi nặng. Dung môi nhiệt độ sôi cao bám chặt và khó hoàn nguyên, tích tụ dần và chiếm chỗ của dung môi nhẹ; biểu hiện là hiệu suất giảm dần đều trong vài tháng rồi tụt nhanh. Cần theo dõi xu hướng hiệu suất theo tuần thay vì chỉ nhìn ngưỡng cảnh báo.

Điểm mù thứ hai là độ ẩm tăng theo mùa: hiệu suất tầng hấp phụ chênh lệch rõ rệt giữa mùa khô và mùa mưa, nên phải đo độ ẩm dòng khí vào ở cả hai mùa và thiết kế theo điều kiện bất lợi hơn. Điểm mù thứ ba là rò rỉ và dòng khí tắt qua đường vòng: chỉ cần một cửa van không kín, một phần khí thải đi vòng qua tầng xử lý và nồng độ đầu ra tăng dù các thông số khác vẫn bình thường.

QCVN 19:2024/BTNMT áp dụng cho hơi dung môi như thế nào

Hơi dung môi hữu cơ được quản lý trực tiếp theo QCVN 19:2024/BTNMT, ban hành kèm Thông tư 45/2024/TT-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2024, hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Quy chuẩn này thay thế nhóm quy chuẩn khí thải công nghiệp cũ: QCVN 19:2009/BTNMT và QCVN 20:2009/BTNMT đã hết hiệu lực, cùng QCVN 21:2009, 22:2009, 23:2009, 34:2010 và 51:2017.

Các chất hữu cơ trước đây nằm rải rác ở QCVN 20:2009/BTNMT đã hết hiệu lực nay được gộp vào Bảng 1 của QCVN 19:2024/BTNMT cùng nhóm với các chất vô cơ, nên tài liệu vẫn viện dẫn QCVN 20:2009/BTNMT đã hết hiệu lực khi bàn về hơi dung môi đều đã lạc hậu.

Thông số số 9: TVOC và sáu cấu tử được quy định

Cơ sở pháp lý trực tiếp cho hơi dung môi là thông số số 9 của Bảng 1. Quy chuẩn quy định thông số này bằng tên gọi hợp chất hữu cơ dễ bay hơi, tính theo TVOC, bao gồm sáu cấu tử là benzen, toluen, etylbenzen, xylen, etyl axetat và butyl axetat; cơ quan quản lý đánh giá theo tổng TVOC chứ không đánh giá riêng từng chất.

Nhóm thiết bị nào thuộc diện áp dụng

QCVN 19:2024/BTNMT không quy định một giá trị chung cho mọi ống khói mà phân theo nhóm thiết bị. Với thông số số 9, các nhóm liên quan trực tiếp đến hơi dung môi gồm nhóm 1 là các thiết bị sơn và phủ bề mặt, bao gồm sấy, sơn xịt, sơn bả và sơn nhúng; nhóm 2 là thiết bị in ấn; nhóm 3 là thiết bị sản xuất sơn, véc ni, mực in, ma tít và keo; nhóm 5 là thiết bị xử lý bề mặt, tẩy rửa dầu mỡ; nhóm 7 là sản xuất cao su tự nhiên hoặc cao su tổng hợp. Nhóm 10 là các thiết bị xả thải khác, trừ động cơ đốt trong dùng khí thiên nhiên.

Phân nhóm ảnh hưởng trực tiếp đến thiết kế: cùng một dung môi nhưng nhà máy sản xuất sơn và xưởng gia công phun sơn có ngưỡng áp dụng khác nhau, nên mức hiệu suất yêu cầu của hệ thống xử lý hơi dung môi cũng khác.

Lộ trình áp dụng và điều khoản chuyển tiếp

Thông tư 45/2024/TT-BTNMT quy định hai mốc thời gian. Dự án mới, dự án mở rộng và các trường hợp phải áp dụng ngay chịu QCVN 19:2024/BTNMT từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Cơ sở đang hoạt động đã được tiếp nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ trước ngày thông tư có hiệu lực được tiếp tục áp dụng quy chuẩn cũ đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2031.

Khoảng chuyển tiếp không phải miễn trừ vĩnh viễn: từ ngày 01 tháng 01 năm 2032, mọi cơ sở đều phải đáp ứng QCVN 19:2024/BTNMT. Vì vậy với dây chuyền có tuổi thọ trên mười năm, thiết kế hệ thống xử lý hơi dung môi theo quy chuẩn mới ngay từ đầu hợp lý hơn. Chưa xác định được phân vùng môi trường thì áp dụng cột B của Bảng 1 và Bảng 2; các giá trị hàm lượng ôxy ghi trong ngoặc là căn cứ quy đổi kết quả đo, không phải giá trị giới hạn.

Ứng dụng theo ngành

Ngành sơn và phủ bề mặt có hai dòng khí tách biệt: bụi sơn từ buồng phun và hơi dung môi từ buồng sấy. Dòng hơi dung môi tập trung, nồng độ cao hơn và thường là hỗn hợp, nên phương án phổ biến là hấp phụ kèm thu hồi hoặc thiêu đốt; cấu hình này có trong bài khí thải phòng sơn.

Ngành in ấn dùng dung môi để pha mực và làm sạch trục in, chủ yếu là toluen, xylen và các este. Do dung môi không phân cực, hấp thụ ướt không phù hợp và hệ thống thường dùng hấp phụ hoặc thiêu đốt, trình bày trong bài khí thải nhà máy sản xuất mực in.

Ngành sản xuất keo và chế biến gỗ ván ép phát sinh hơi dung môi từ dung môi pha keo và từ quá trình sấy, đồng thời phát sinh bụi gỗ và hơi formaldehyde, nên tầng hấp thụ và tầng hấp phụ thường được ghép nối tiếp, mô tả trong bài keo dán gỗ ván ép.

Ngành dược phẩm dùng nhiều dung môi phân cực như axeton, metanol, IPA và ethanol trong nồi phản ứng và thiết bị sấy. Đây là nhóm tan trong nước nên hấp thụ ướt hoạt động tốt, đồng thời yêu cầu vệ sinh và kiểm soát nhiễm chéo cao hơn mức thông thường, được đề cập trong bài khí thải ngành dược phẩm.

Trường hợp nhà máy cao su — nơi dòng khí vừa ẩm cao vừa chứa amoniac — được tách riêng thành một chuỗi xử lý trong bài xử lý khí thải nhà máy cao su.

Câu hỏi thường gặp

Có công nghệ nào xử lý hơi dung môi được mọi loại dung môi không? Không. Bốn họ công nghệ có vùng áp dụng khác nhau, phụ thuộc vào độ phân cực, nhiệt độ sôi và nồng độ hơi trong khí thải.

Tháp hấp thụ nước có xử lý được hơi toluen không? Hiệu suất rất thấp. Toluen hầu như không tan trong nước, độ tan khoảng 0,5 gam mỗi lít, nên phần lớn đi qua tháp mà không bị giữ lại. Dòng khí chủ yếu là toluen hoặc xylen cần dùng hấp phụ hoặc thiêu đốt.

Nên đặt bình ngưng trước hay sau tầng hấp phụ? Đặt trước. Bình ngưng loại bớt dung môi nhiệt độ sôi cao, vốn bám chặt và khó hoàn nguyên khỏi vật liệu hấp phụ, nhờ đó tầng phía sau giữ hiệu suất ổn định nhiều tháng.

Dung môi thu hồi từ dòng khí có dùng lại được ngay không? Không phải lúc nào cũng được. Dung môi thu hồi thường lẫn nước và các cấu tử khác nên độ tinh khiết có thể không đạt yêu cầu quy trình; cần xác định trước mức tinh khiết cần thiết.

Quy chuẩn nào đang áp dụng? QCVN 19:2024/BTNMT, ban hành kèm Thông tư 45/2024/TT-BTNMT, hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025. Hơi dung môi được quản lý theo thông số số 9 của Bảng 1, tính theo TVOC với sáu cấu tử benzen, toluen, etylbenzen, xylen, etyl axetat và butyl axetat.

Kết luận

Xử lý hơi dung môi là bài toán chọn công nghệ theo tính chất dung môi chứ không phải bài toán mua thiết bị. Ba đặc tính cần tra trước tiên là nhiệt độ sôi, độ phân cực, độ tan trong nước và khối lượng riêng hơi; trong đó độ phân cực quyết định nhiều nhất và cũng bị bỏ qua nhiều nhất.

Về cấu hình, tách ẩm trước tầng hấp phụ và đặt bình ngưng trước tầng hấp phụ khi khí có nhiều dung môi nhiệt độ sôi cao, vì đây là điểm quyết định hiệu suất sau một năm.

Về pháp lý, QCVN 19:2024/BTNMT đã có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 và quản lý hơi dung môi theo thông số TVOC tại thông số số 9 của Bảng 1. Tài liệu và hồ sơ môi trường vẫn viện dẫn QCVN 19:2009/BTNMT và QCVN 20:2009/BTNMT, cả hai đã hết hiệu lực, cần được rà soát lại.

Xicheng thiết kế và chế tạo tháp hấp thụ, tháp hấp phụ than hoạt tính, đường ống và quạt chống ăn mòn cho các dây chuyền có hơi dung môi, từ khảo sát đặc tính dung môi tại xưởng đến tính toán cấu hình nhiều tầng. Để được tư vấn cấu hình phù hợp với dòng khí thực tế, vui lòng liên hệ Xicheng.

Tags:

Categories:

Comments are closed