Xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật: ba dòng khí và QCVN 19:2024

Latest Comments

No comments to show.
Xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật

Key Takeaways

  • Xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật khác các ngành khác ở chỗ ba dòng khí có tính chất hóa học trái ngược nhau nên không thể dùng chung một dung dịch hấp thụ.
  • Dòng khí từ khu định lượng, nghiền và sang chai có thành phần chính là bụi thuốc thành phẩm mịn chứ không phải khí, và loại bụi này mang độc tính nên vật liệu lọc sau thời gian sử dụng thuộc nhóm chất thải nguy hại.
  • Dòng khí từ khu pha dung môi chứa các hợp chất hữu cơ bay hơi; muốn hấp phụ bằng than hoạt tính thì phải làm mát và tách ẩm trước.
  • Dòng khí từ khu tổng hợp chứa NH₃, H₂S, HCl và Cl₂; amoniac mang tính kiềm nên tháp hấp thụ kiềm gần như không giữ được, buộc phải dùng dung dịch axit.
  • QCVN 19:2024/BTNMT là quy chuẩn đang áp dụng cho nhóm cơ sở sản xuất hóa chất, đã thay thế các quy chuẩn cũ đã hết hiệu lực.

Nhà máy thuốc bảo vệ thực vật và nhà máy nhiệt điện khác nhau ở nhiên liệu chứ không khác ở nguyên tắc chọn ô áp dụng trong QCVN 19:2024/BTNMT; phần nhà máy nhiệt điện được tính đầy đủ trong bài xử lý khí thải nhà máy nhiệt điện.

Cùng nằm trong nhóm cơ sở có nhiều dòng khí tách biệt, xử lý khí thải nhà máy sản xuất keo dán gỗ ván ép là bài đối chiếu trực tiếp với trường hợp thuốc bảo vệ thực vật ở trên.

Cùng nguyên tắc phân dòng theo tính chất hóa học cũng áp dụng cho xử lý khí thải nhà máy sản xuất mực in, nơi dòng hơi dung môi và dòng bụi mực cháy nổ phải tách thành hai tuyến thu gom.

Một nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật thải ra ba dòng khí có bản chất khác hẳn nhau chứ không phải một dòng duy nhất. Bài viết đi theo trình tự mà xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đòi hỏi: xác định thành phần từng dòng, chọn dung dịch hấp thụ, phân biệt yêu cầu từng công đoạn rồi ráp thành hệ thống và đối chiếu quy chuẩn đang áp dụng.

Table of Contents

Khí thải sản xuất thuốc bảo vệ thực vật gồm những gì?

Ba dòng khí phát sinh từ ba công đoạn khác nhau

Chuỗi sản xuất thuốc bảo vệ thực vật đi theo trình tự nguyên liệu, định lượng, trộn, nghiền, sang chai hoặc đóng gói rồi lưu kho. Khu định lượng, nghiền và sang chai làm việc với nguyên liệu dạng rắn nên thải chủ yếu là bụi mịn, còn khu pha dung môi và khu sấy thải hợp chất hữu cơ. Riêng khu tổng hợp làm việc với hợp chất có tính axit hoặc kiềm nên thải khí vô cơ. Ba nhóm khác nhau cả về pha, độc tính lẫn cách bắt giữ, nên xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật luôn là bài toán ghép nhiều tầng thiết bị.

Bụi thuốc thành phẩm là thành phần chính của dòng khí khô

Tài liệu kỹ thuật ngành hóa nông nghiệp chỉ ra rằng phát thải vào không khí sinh ra xuyên suốt quá trình pha chế và đóng gói thuốc bảo vệ thực vật, phần lớn khi hạt bụi thuốc mịn bị cuốn vào không khí. Khối lượng ô nhiễm lớn nhất nằm ở dạng hạt rắn chứ không phải thể khí, và bụi này không phải bụi trơ mà chính là hoạt chất, nên trong xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật phải coi bụi là chất độc. Bụi thu hồi và túi lọc sau sử dụng đều phải đi theo đường chất thải nguy hại.

Dung môi hữu cơ bay hơi từ khu pha chế và khu sấy

Thuốc dạng lỏng như nhũ tương đậm đặc hay huyền phù đều cần dung môi. Dung môi thường gặp gồm toluen, xylen, methanol, ethanol, aceton và ethyl acetat. Trong khu pha chế, thao tác rót và khuấy làm dung môi bay hơi ngay ở nhiệt độ phòng; trong khu sấy, nhiệt độ nâng cao nên đây là nguồn phát thải hữu cơ lớn nhất. Nhóm chất này dễ cháy và khó tan trong nước nên hấp thụ ướt đơn thuần không đủ.

Amoniac, lưu huỳnh và khí axit từ khu tổng hợp

Với cơ sở có công đoạn tổng hợp hoặc gia công nguyên liệu trung gian, dòng khí thải mang thêm nhóm khí vô cơ. Amoniac xuất hiện ở công đoạn dùng hợp chất chứa nitơ, còn hydro sunfua xuất hiện ở công đoạn dùng nguyên liệu hữu cơ chứa lưu huỳnh. Khí axit như HCl và Cl₂ xuất hiện ở công đoạn tổng hợp hợp chất clo hữu cơ. Nếu nhà máy có lò hơi hoặc lò đốt nội bộ thì dòng khói bổ sung SO₂, NOₓ và CO.

Nhóm chất ô nhiễmNguồn phát sinhĐặc điểmThiết bị xử lý chính
Bụi thuốc thành phẩmKhu định lượng, nghiền, đóng góiHạt rất mịn, mang độc tínhCyclone, lọc túi vải, lọc tinh
Hợp chất hữu cơ bay hơiKhu pha dung môi và sấyDễ cháy, mùi mạnh, khó tanLàm mát, tách ẩm, hấp phụ
Amoniac (NH₃)Khu tổng hợp, kho nguyên liệu chứa nitơTính kiềm, tan mạnh trong nước, mùi khaiTháp hấp thụ dùng dung dịch axit
Hydro sunfua (H₂S) và mercaptanKhu tổng hợp hợp chất lưu huỳnhMùi thối, ngưỡng nhận biết rất thấpTháp hấp thụ có pha chất oxy hóa
Khí axit (HCl, Cl₂)Khu tổng hợp hợp chất cloĂn mòn mạnh, Cl₂ nặng hơn không khíTháp hấp thụ dùng dung dịch kiềm
SO₂, NOₓ, COLò hơi, lò đốt chất thải nội bộPhụ thuộc loại nhiên liệu đốtTháp hấp thụ, xử lý bổ sung

Cách bố trí thiết bị cho dòng khí có dung môi nhưng không có khí axit đã được trình bày ở bài xử lý khí thải từ xưởng sản xuất nội thất.


Vì sao một dung dịch hấp thụ không xử lý được cả ba dòng khí?

Nguyên lý hóa học: khí axit cần dung dịch kiềm, khí kiềm cần dung dịch axit

Hấp thụ ướt hoạt động dựa trên phản ứng giữa chất ô nhiễm trong pha khí và chất phản ứng trong pha lỏng, nên hai chất phải trái tính nhau. Khí axit như HCl, Cl₂ hay SO₂ chỉ bị giữ lại khi gặp môi trường kiềm, còn khí mang tính kiềm như amoniac chỉ bị giữ lại khi gặp môi trường axit. Nếu cho dòng khí chứa amoniac đi qua tháp kiềm thì khí vẫn đi thẳng ra ống khói. Đây là lỗi thiết kế phổ biến nhất trong xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, và không thể khắc phục bằng cách tăng chiều cao tháp.

Dung dịch NaOH hấp thụ HCl, SO₂ và Cl₂ nhưng gần như không giữ được NH₃

Dung dịch natri hydroxit là lựa chọn tiêu chuẩn cho nhóm khí axit vì phản ứng nhanh và sản phẩm là muối tan. Với HCl, phản ứng tạo muối clorua tan; với Cl₂, dung dịch kiềm vừa hấp thụ vừa thủy phân thành clorua và hypoclorit; với SO₂, dung dịch kiềm tạo sunfit rồi bị oxy hóa tiếp thành sunfat. Nhưng khi dòng khí có amoniac lẫn vào thì dung dịch kiềm không còn tác dụng: amoniac tan tốt trong nước nhưng trong dung dịch kiềm cân bằng nghiêng về phía khí tự do nên bị đẩy ngược lại pha khí.

Dung dịch H₂SO₄ hoặc HCl hấp thụ NH₃ và các amin

Ngược lại, amoniac và các amin hữu cơ cần môi trường axit. Dùng dung dịch axit sunfuric hoặc axit clohydric làm chất hấp thụ, amoniac bị chuyển thành muối amoni tan: với axit sunfuric là amoni sunfat, với axit clohydric là amoni clorua. Cả hai loại muối này tan tốt nên dung dịch không bị cặn và có thể tận dụng lại.

Vì sao nhiều công trình thực tế chỉ làm một tháp kiềm

Trên thực tế không ít phương án thiết kế cho nhà máy thuốc bảo vệ thực vật chỉ đề xuất một chuỗi gồm cyclone, một tháp hấp thụ dùng dung dịch kiềm, một khối hấp phụ than hoạt tính rồi ra ống khói. Chuỗi này xử lý tốt dòng bụi và một phần dung môi nhưng để lọt amoniac gần như hoàn toàn vì lý do hóa học đã nêu. Nguyên nhân thường là sao chép cấu hình của dòng khí axit sang dòng khí kiềm mà không phân tích thành phần thực tế. Với xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, hệ quả không chỉ là không đạt quan trắc mà còn là mùi khai phát tán ra khu dân cư.

Khí cần xử lýDung dịch hấp thụSản phẩm phản ứngLưu ý vận hành
HCl, Cl₂NaOHMuối clorua tanHiệu quả cao, kiềm tiêu hao nhanh
SO₂NaOHSunfit rồi sunfatPhải giữ pH để tránh thoát khí trở lại
NH₃H₂SO₄ hoặc HClMuối amoni tanDung dịch kiềm gần như không giữ được
Amin hữu cơH₂SO₄Muối amoni hữu cơMùi giảm rõ sau một tầng axit
H₂S, mercaptanNaOH pha chất oxy hóaSunfatChỉ kiềm đơn thuần là không đủ
Hợp chất hữu cơ khó tanThan hoạt tínhHấp phụ trên bề mặtPhải làm mát và tách ẩm trước

Hai cơ chế hấp thụ này là nội dung chính của bài xử lý khí thải bằng phương pháp hấp thụ, còn cấu tạo bên trong tháp kiềm được mô tả ở bài tháp hấp thụ NaOH.


Công nghệ xử lý khí thải nhà máy thuốc bảo vệ thực vật: chọn theo từng dòng khí

Thu gom tại nguồn: chụp hút cục bộ và đường ống kín

Mọi tính toán về sau đều vô nghĩa nếu dòng khí không được thu gom. Với xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, nguyên tắc là hút tại điểm phát sinh thay vì hút tràn cả nhà xưởng. Tại các điểm rót, điểm xả liệu và miệng thiết bị nghiền, chụp hút cục bộ đặt sát nguồn cho hiệu quả cao nhất với lưu lượng nhỏ nhất. Với khu pha dung môi, nắp thiết bị phải che kín và hút tại lỗ thông hơi; với khu tổng hợp, đường ống phải kín và giữ áp suất âm nhẹ.

Tách bụi: cyclone, lọc túi vải và lọc tinh

Với dòng khí khô mang bụi thuốc, tách bụi là tầng đầu tiên và quyết định tuổi thọ các tầng sau. Cyclone đặt trước để giữ hạt lớn và giảm tải cho túi lọc, vì túi lọc đặt ngay không có tầng thô sẽ nhanh bị bít. Lọc túi vải giữ hạt mịn nhờ lớp bánh bụi trên bề mặt vải, hiệu quả các đơn vị trong ngành báo ở mức xấp xỉ 99,9 phần trăm. Với hoạt chất độc tính mạnh, cần thêm tầng lọc tinh phía sau, và bụi thu hồi cùng túi lọc đã dùng đều phải quản lý như chất thải nguy hại.

Hấp thụ ướt cho dòng khí axit và dòng khí kiềm

Đây là tầng quyết định khả năng đạt yêu cầu quan trắc của toàn hệ thống. Với dòng khí axit chứa HCl và Cl₂, dùng tháp hấp thụ kiềm; với dòng khí chứa amoniac và amin, dùng tháp hấp thụ axit. Hai tháp có thể đặt song song nếu hai dòng khí được thu gom riêng, hoặc nối tiếp nếu buộc gộp chung và chấp nhận tiêu hao hóa chất cao hơn. Vận tốc khí trong tháp tham khảo khoảng 0,3 đến 0,5 mét trên giây và thời gian lưu khí khoảng 0,5 đến 1,5 giây, chi tiết xem ở bài tính toán thiết kế tháp hấp thụ.

Hấp phụ than hoạt tính cho hợp chất hữu cơ và mùi

Sau khi tách bụi và qua tầng hấp thụ, dòng khí còn lại chủ yếu là hợp chất hữu cơ bay hơi có mùi. Than hoạt tính giữ nhóm chất này trên bề mặt rắn, với các giá trị tham khảo: diện tích bề mặt riêng 500 đến 1.500 mét vuông trên gam, hiệu quả hấp phụ 90 đến 98 phần trăm, chiều dày lớp than 300 đến 600 milimét và vận tốc khí qua lớp than 0,3 đến 0,5 mét trên giây. Điều kiện tiên quyết là dòng khí vào lớp than phải được làm mát xuống dưới khoảng 40 độ C và độ ẩm tương đối dưới khoảng 70 phần trăm; đây là bước bị bỏ qua nhiều nhất trong xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật. Than bão hòa có thể hoàn nguyên vài lần rồi phải thay, với chu kỳ tham khảo ba đến sáu tháng.

Khi nào mới cần đến đốt hoặc oxy hóa

Với phần lớn nhà máy pha chế và đóng gói, ba tầng gồm tách bụi, hấp thụ và hấp phụ là đủ. Tầng đốt chỉ đáng cân nhắc khi lưu lượng lớn và nồng độ hữu cơ cao nhưng không thể thu hồi, hoặc khi yêu cầu về mùi đặc biệt nghiêm ngặt. Với dòng khí có mùi hữu cơ phân hủy sinh học được ở nồng độ thấp và lưu lượng lớn, có thể cân nhắc xử lý khí thải bằng phương pháp sinh học, còn phương án đốt xem ở bài xử lý khí thải bằng phương pháp thiêu đốt.


Xử lý khí thải thuốc bảo vệ thực vật theo từng công đoạn sản xuất

Kho nguyên liệu và khu định lượng

Khu định lượng là nơi hoạt chất dạng bột được cân và chia theo mẻ. Thao tác rót từ bao vào phễu cân làm bụi mịn phát tán mạnh nhất trong nhà máy, dù khối lượng mỗi lần nhỏ. Vì vậy xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật cần đặt chụp hút ngay tại miệng phễu cân và điểm đổ bao. Bụi thu hồi tại đây có nồng độ hoạt chất cao nhất nên phải thu vào thùng kín và niêm phong ngay.

Khu nghiền và phối trộn

Nghiền làm giảm kích thước hạt để hoạt chất phân tán đều, và chính thao tác này tạo ra phần lớn hạt mịn cuốn theo không khí. Máy nghiền và máy trộn nên được che kín, chỉ hút tại máng xả và cửa nạp liệu. Tầng xử lý phù hợp là cyclone giữ hạt lớn đặt ngay sau thiết bị, rồi đến lọc túi vải. Khi nguyên liệu có độ ẩm cao, bụi bám dính vào cyclone và đường ống, làm giảm hiệu suất và mất cân bằng áp suất toàn tuyến.

Khu pha dung môi và khu sấy

Đây là nơi phát sinh hợp chất hữu cơ bay hơi tập trung nhất. Dung môi được rót, khuấy và gia nhiệt trong thiết bị có nắp, nên cách thu gom hiệu quả là hút tại lỗ thông hơi của thiết bị và cửa xả của buồng sấy. Trước khi vào lớp than hoạt tính, dòng khí này bắt buộc phải qua thiết bị làm mát và tách ẩm, vì nhiệt độ và độ ẩm cao làm giảm mạnh khả năng hấp phụ. Cần theo dõi nồng độ hơi dung môi trong đường ống bằng thiết bị đo liên tục để bảo đảm an toàn cháy.

Khu sang chai, đóng gói và kho thành phẩm

Công đoạn sang chai và đóng gói phát sinh bụi thành phẩm tại đầu rót và các điểm rơi của chai, can hoặc gói. Bụi ở đây đã là thành phẩm nên độc tính đầy đủ, lại rất mịn nên khó lắng và dễ treo lơ lửng trong không khí khu vực làm việc. Tầng xử lý phù hợp là chụp hút tại đầu rót ghép với lọc tinh, tương tự cách bố trí ở bài xử lý khí thải độc hại trong nhà máy xi mạ.

Công đoạnChất ô nhiễm chínhCách thu gomHướng xử lý
Kho nguyên liệu và định lượngBụi nguyên liệu, mùi nhẹChụp hút cục bộ tại điểm rótLọc túi vải, thu bụi kín
Nghiền và phối trộnBụi mịn nồng độ caoChe kín thiết bị, hút tại máng xảCyclone rồi lọc túi vải
Pha dung môi và sấyHợp chất hữu cơ bay hơiHút tại nắp thiết bị, không hút tràn phòngLàm mát, tách ẩm, hấp phụ
Sang chai và đóng góiBụi thành phẩm mịnChụp hút tại đầu rótLọc tinh, kiểm soát bụi treo
Khu tổng hợpNH₃, H₂S, HCl, Cl₂Đường ống kín, giữ áp suất âm nhẹHai tháp hấp thụ axit và kiềm

Với khu vực vừa có bụi vừa có hơi dung môi như xưởng pha sơn, cách tách tuyến thu gom được trình bày ở bài hệ thống xử lý khí thải phòng sơn.


Hệ thống xử lý khí thải nhà máy thuốc bảo vệ thực vật gồm những thiết bị nào?

Sơ đồ tổng thể từ khu phối trộn đến ống khói

Một hệ thống hoàn chỉnh cho xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật thường gồm bốn khối nối tiếp: thu gom, tách bụi, hấp thụ và hấp phụ, kết thúc bằng quạt và ống khói. Thứ tự này không thể đảo, vì khí còn bụi vào tháp hấp thụ sẽ làm bùn đáy tháp và tắc vòi phun, còn khí còn ẩm vào lớp than sẽ làm than mất hoạt tính nhanh. Trước khi thiết kế chi tiết, cần khảo sát hiện trạng và đo lưu lượng thực tế theo hướng dẫn ở bài thiết kế hệ thống hút khí thải cho nhà máy.

Cụm thu gom và tiền xử lý bụi

Cụm này gồm chụp hút, đường ống nhánh, van điều chỉnh lưu lượng, cyclone và lọc túi vải, có vai trò đưa đúng lưu lượng khí từ từng điểm phát sinh về tuyến chính mà không làm mất cân bằng giữa các nhánh. Trên đường ống cần bố trí cửa lấy mẫu để kiểm tra nồng độ bụi và nhiệt độ, vì hai thông số này quyết định có cần làm mát trước tầng sau hay không. Với dòng khí axit, ống và phụ kiện nhựa tổng hợp thường kinh tế hơn thép không gỉ, chi tiết xem ở bài ống gió nhựa PVC.

Hai tháp hấp thụ song song cho hai nhóm khí

Đây là điểm khác biệt cốt lõi so với thiết kế một tháp thường gặp. Nếu nhà máy có cả dòng khí axit và dòng khí chứa amoniac, phương án đúng là thu gom riêng hai dòng rồi cho qua hai tháp độc lập: tháp kiềm cho HCl, Cl₂ và SO₂, tháp axit cho NH₃ và amin. Cách này đạt hiệu quả cao hơn và tiết kiệm hóa chất vì mỗi tháp chỉ tiêu hao loại dung dịch cần thiết. Trường hợp buộc gộp chung vì mặt bằng thì phải chấp nhận dung dịch hai tháp trung hòa lẫn nhau; cấu tạo chung của tháp xem ở bài tháp xử lý khí thải là gì.

Vật liệu chống ăn mòn và chế độ bảo trì

Dòng khí axit cùng dung dịch kiềm tuần hoàn tạo ra môi trường ăn mòn mạnh, nên thân tháp, đường ống và bơm dung dịch thường dùng nhựa PP, PVC hoặc FRP; đoạn nhiệt độ cao dùng thép không gỉ. Chế độ bảo trì cần theo dõi độ chênh áp qua lớp lọc và lớp than, độ pH của hai bể dung dịch, tình trạng vòi phun cùng lớp đệm trong tháp, và tình trạng rò rỉ tại mặt bích trên tuyến ống kín. Ghi chép theo tuần giúp phát hiện suy giảm hiệu suất trước khi vượt ngưỡng quan trắc; thiết bị hấp phụ liên quan xem ở bài tháp hấp phụ xử lý khí thải.


Tiêu chuẩn khí thải nhà máy thuốc bảo vệ thực vật theo QCVN 19:2024/BTNMT

Cấu trúc Bảng 1 và Bảng 2, cách tra theo nhóm cơ sở sản xuất hóa chất

QCVN 19:2024/BTNMT đã thay thế nhóm quy chuẩn cũ về khí thải công nghiệp, trong đó có QCVN 19:2009/BTNMT đã hết hiệu lực cùng QCVN 20:2009/BTNMT cũng đã hết hiệu lực. Cấu trúc mới gom giới hạn vào hai bảng: Bảng 1 quy định cho các thông số ở thể khí, Bảng 2 quy định cho các thông số ở thể hạt, mỗi bảng chia thành ba cột A, B và C tương ứng với mức phân vùng môi trường nơi cơ sở xả thải. Khi tra quy chuẩn cho cơ sở sản xuất thuốc bảo vệ thực vật, cần xác định đúng nhóm cơ sở sản xuất hóa chất rồi xác định cột theo phân vùng. Phần này gắn trực tiếp với xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật.

NH₃, Cl₂ và HCl: những thông số phải quan trắc riêng

Điểm đáng chú ý là các thông số vô cơ đặc trưng của ngành được liệt kê thành dòng riêng trong bảng chứ không gộp vào một nhóm chung, nên cơ sở cần chuẩn bị số liệu quan trắc cho từng thông số ngay từ giai đoạn lập hồ sơ. Một số thông số cũng được quy định phương pháp quan trắc riêng, nên đơn vị quan trắc phải dùng đúng phương pháp được chỉ định. Giá trị giới hạn cho phép cụ thể xin xem trực tiếp tại Bảng 1 và Bảng 2 của quy chuẩn. Cách các ngành khác tra cùng bộ bảng này có thể tham khảo ở bài xử lý khí thải lò nung gốm sứ.

Khi nào dòng khí chuyển sang QCVN 30:2025/BTNMT

Nếu trong nhà máy có lò đốt chất thải nội bộ để xử lý dung môi thải, bao bì nhiễm hoạt chất hoặc chất thải nguy hại khác thì dòng khói từ thiết bị đốt đó không còn áp dụng theo nhóm cơ sở sản xuất hóa chất mà chuyển sang QCVN 30:2025/BTNMT. Phân định đúng dòng khí thuộc quy chuẩn nào là bước đầu khi lập hồ sơ, vì gộp sai sẽ dẫn đến quan trắc thiếu thông số và hồ sơ bị yêu cầu bổ sung. Kinh nghiệm xử lý dòng khói từ thiết bị đốt được trình bày ởbài xử lý khí thải lò đốt.


Kết luận và tư vấn chọn hệ thống xử lý khí thải nhà máy thuốc bảo vệ thực vật

Chọn theo quy mô và hình thức sản xuất

Với cơ sở chỉ pha chế và đóng gói, không có công đoạn tổng hợp, cấu hình hợp lý thường là chụp hút cục bộ, cyclone, lọc túi vải và một khối hấp phụ than hoạt tính kèm thiết bị làm mát tách ẩm phía trước. Với cơ sở có công đoạn tổng hợp hoặc gia công nguyên liệu trung gian, bắt buộc phải thêm hai tháp hấp thụ tách riêng cho dòng khí axit và dòng khí chứa amoniac. Với cơ sở có nhiều dây chuyền chạy song song, nên thiết kế theo tải liên tục và có bể dung dịch đủ lớn để giữ ổn định nồng độ. Trong mọi trường hợp, xử lý khí thải nhà máy sản xuất thuốc bảo vệ thực vật vẫn giữ nguyên tắc phân dòng theo tính chất hóa học; khi cần cấu hình gọn cho tải nhỏ có thể tham khảo scrubber tháp xử lý khí thải bằng nhựa PP.

Đặt hàng cần cung cấp những thông số gì

Để nhận báo giá và bản vẽ sát thực tế, cơ sở cần chuẩn bị: danh mục công đoạn đang vận hành và công đoạn nào phát sinh khí thải; thành phần nguyên liệu và dung môi sử dụng; lưu lượng khí thải đo được hoặc ước tính theo công suất từng khu vực; nhiệt độ và độ ẩm của dòng khí tại điểm thu gom; thời gian vận hành trong ngày; vị trí mặt bằng dự kiến đặt thiết bị; và yêu cầu về các thông số phải quan trắc theo hồ sơ môi trường. Cung cấp đủ các thông số này giúp đơn vị thiết kế xác định đúng số tháp hấp thụ cần dùng ngay từ lần đầu.

Tags:

Categories:

Comments are closed